Xạ can là cây thân thảo sống dai, cao đến 1m, lá hình mác dài, hoa màu vàng cam điểm đốm tím đặc trưng. Bộ phận dùng là thân rễ (củ). Theo Đông y, Xạ can có vị đắng, cay; tính hàn, hơi độc; công năng thanh nhiệt giải độc, khu đờm lợi họng; chủ trị các chứng viêm họng, đờm nhiều, ho suyễn. Nhiều bài thuốc cổ phương nổi tiếng như Xạ Can Ma Hoàng Thang (trị ho, hen phế quản) hay phương Xạ Can – Cát Cánh – Hoàng Cầm – Cam Thảo (trị viêm họng cấp) đã chứng minh hiệu quả của vị thuốc này.
Nghiên cứu hiện đại cho thấy Xạ can chứa glucozit Belacandin, Tectoridin, Iridin, Magiferin, Shekanin, có tác dụng chống nấm, kháng virus đường hô hấp và giảm viêm hiệu quả.
1. Giới thiệu chung
Tên khoa học: Belamcandae chinensis (L.) DC.
Họ khoa học: Lay ơn (Iridaceae).
(Nguồn: Illustrated Chinese Materia Medica)
Mô tả thực vật
Cây thân thảo sống lâu năm, có thân rễ mọc bò. Lá mọc thẳng đứng, hình mác dài, xếp hai hàng, dài 20–40cm, rộng 1,5–2cm, gân song song. Cụm hoa mọc ở đầu ngọn, cánh hoa màu vàng cam có đốm tím đặc trưng. Quả nang hình trứng, khi khô tách làm 3 van, chứa nhiều hạt tròn màu đen xanh bóng.
Bộ phận dùng
Thân rễ (củ).
Phân bố
Xạ can mọc hoang và được trồng làm cảnh ở nhiều vùng tại Việt Nam và Trung Quốc.
Thu hái
Vào mùa Xuân hoặc mùa Thu.
Bào chế
-
Khô: Ngâm mềm, thái nhỏ, phơi khô (theo Đông Dược Học Thiết Yếu).
-
Tươi: Rửa sạch, giã với muối ngậm trị họng đau; hoặc mài bột uống với nước (theo Dược liệu Việt Nam).
Dược liệu tốt: Củ to, chất cứng, vỏ nâu đến nâu đỏ, nhiều rễ con bám, lát cắt gờ nổi màu vàng nhạt.
2. Kiến biệt dược liệu
-
Hình trụ, nhiều rễ con nhỏ.
-
Vỏ nâu hoặc nâu đỏ, ruột vàng nhạt, có gờ nổi.
-
Chất cứng, chắc, khi bẻ có mùi thơm nhẹ đặc trưng.
-
Củ càng to, gờ rõ, ruột vàng sáng càng nhiều dược chất.
(Nguồn: Kiểm định dược tài)
3. Y học cổ truyền
Tính vị – Quy kinh
Vị đắng, cay, tính hàn, hơi độc. Quy kinh Phế và Can.
Công năng
-
Thanh nhiệt giải độc: tiêu viêm, lợi yết hầu.
-
Khu đờm, lợi họng: giảm đờm, ho, suyễn.
Chủ trị
-
Họng sưng đau:
-
Xạ can khổ hàn, thanh Phế hỏa, tả nhiệt độc ở yết hầu, tiêu sưng, thông họng, hóa đờm.
-
Phối hợp Kinh giới, Liên kiều, Ngưu bàng tử trị viêm họng, mất tiếng.
-
-
Đờm nhiều, ho suyễn:
-
Thanh Phế hỏa, giáng khí, bình suyễn chỉ ho.
-
Phối Tang bạch bì, Cát cánh để tiêu đờm.
-
Nếu hàn đờm: phối Ma hoàng, Tế tân, Sinh khương, Bán hạ → Xạ Can Ma Hoàng Thang (Kim Quỹ Yếu Lược).
-
Liều dùng
3–9g/ngày (Nguồn: Trung Dược Học – Thạch Hào Mẫn).
4. Ứng dụng lâm sàng
-
Viêm họng cấp, sưng đau, khản tiếng:
Xạ can 6–16g, sắc uống; hoặc dùng Xạ can tươi giã với muối đắp vùng cổ.
Bài thuốc: Xạ can 12g, Hoàng cầm 12g, Cát cánh 12g, Cam thảo 8g – sắc uống trị viêm họng cấp. -
Viêm phế quản thể hen, hen phế quản:
Xạ Can Ma Hoàng Thang (Kim Quỹ Yếu Lược): Xạ can 8g, Ma hoàng 8g, Khoản đông hoa 12g, Tử uyển 12g, Khương bán hạ 8g, Tế tân 4g, Ngũ vị tử 6g, Gừng tươi 3 lát, Đại táo 3 quả – sắc uống. -
Chứng đái đục (Chyluria):
Xạ can 15g sắc uống mỗi ngày chia 3 lần, 10 ngày 1 liệu trình; tỷ lệ khỏi 90,4% (Tạp chí Trung Y 1981,5:364).
Nghiên cứu khác (Tạp chí Trung Y 1986,11:66): 87 ca, khỏi 85,1% với liều 12–25g/ngày.
Trường hợp có tiểu ra máu: gia Xuyên khung, Xích thược, Sinh địa, Tiên hạc thảo.
5. Nghiên cứu hiện đại
Thành phần hóa học
-
Belacandin (C₂₄H₂₄O₁₂)
-
Tectoridin (C₂₂H₂₂O₁₁)
-
Iridin (C₂₄H₂₈O₄)
-
Magiferin, Shekanin (Xạ can tố)
Tác dụng dược lý
-
Chống nấm ngoài da.
-
Kháng virus đường hô hấp.
-
Giảm viêm và tiêu sưng vùng họng – phế quản.
-
Có tiềm năng hỗ trợ điều trị viêm họng mạn, viêm phế quản và hen phế quản.
6. Lưu ý khi dùng
-
Do tính hàn, hơi độc, không dùng liều cao hoặc kéo dài.
-
Người tỳ vị hư hàn, phụ nữ có thai cần thận trọng.
-
Không phối hợp với các vị thuốc hàn lương mạnh trong trường hợp ho hàn, đờm loãng.
-
Khi có dấu hiệu nôn, chóng mặt hoặc tiêu chảy, cần ngưng thuốc và hỏi ý kiến thầy thuốc.
Tiếng Việt
English
中文